Khám phá

Những khoảnh khắc đau thương nhất lịch sử loài người không ai dám nhớ lại (P2)

Neko Punch
Lịch sử loài người chưa bao giờ thiếu những khoảnh khắc đau lòng đến nhức nhối.

5. Khmer Đỏ

Khmer Đỏ là thành viên của Đảng Cộng Sản Campuchia, và trong suốt bốn năm (1975 – 1979), chúng đã phá hủy hoàn toàn Campuchia về kinh tế, chính trị và cả nhân khẩu học. Lợi dụng sự hỗn loạn sau chiến tranh Việt Nam, chúng lật đổ chính quyền Cộng hòa và thiết lập một chế độ mà nhà lãnh đạo Saloth Sar, tự xưng Pol Pot, gọi là xã hội cộng sản lý tưởng.

Trên thực tế, đây là một sự tái định cư ép buộc, bắt mọi người phải chuyển về các vùng nông thôn để trồng trọt canh tác, bất kể họ có kỹ năng hay không. Qua nước đi này, nhiều người đã chết đói, làm việc quá sức và bị tra tấn đến chết.

Bất cứ ai được xem là có học thức đều ngay lập tức bị giết để bảo vệ vẹn toàn chế độ này. Bất cứ ai đeo kính đều được xem là dân trí thức, và thường sẽ bị dẫn đến những cánh đồng hạ sát. Tất cả mọi cuốn sách, giấy tờ được tìm thấy đều bị đốt, kể cả tiền. Mọi ngân hàng và bệnh viện bị ép phải đóng cửa.

Người dân chỉ được phát mỗi ngày hai bát súp. Tất cả mọi tôn giáo đều bị cấm, và đối với những người còn dám thể hiện đức tin của mình vào bất cứ tôn giáo nào đều sẽ bị nhắm làm mục tiêu. Điều này áp dụng với cả đạo Phật, Thiên Chúa giáo và đạo Hồi. Những người từng được tiếp cận với nền văn hóa giáo dục phương Tây cũng sẽ bị liệt vào danh sách đen.

Nhưng những chi tiết đi vào lòng người nhất của khoảng thời gian này đến từ S-21, nay là Bảo tàng Diệt chủng Tuol Sleng. Đây là một trường trung học trước khi bị tiếp quản. Lính canh Khmer Đỏ đã buộc các tù nhân ăn phân của lính canh ở đây. Tù nhân còn bị cấm uống nước trừ khi được cho phép, và nếu như có ai cố gắng làm trái mà bị phát hiện thì sẽ bị đánh đập, có khi là đến chết.

Tù nhân bị tra tấn bằng những hình thức như nhấn nước, hãm hiếp, giật điện ở răng và bộ phận sinh dục, ngoài ra còn có những người xấu số bị thiến bằng kìm. Số người chết trong chế độ Khmer Đỏ không thể tính toán chính xác được vì hồ sơ của thời gian này gần như đã bị mất do bảo quản không tốt. Ước tính đáng tin cậy nhất cho rằng đã có từ 2,5 đến 3 triệu người bị giết hại, con số này đại diện cho 21% dân số Campuchia thời đó.

Pol Pot qua đời vào ngày 15/4/1998 do suy tim. Hắn cũng có thể đã bị đầu độc, hoặc tự sát vì lo sợ sắp bị bắt vì những tội ác của mình.

6. Chiến tranh thế giới Thứ nhất

Có thể thấy các nước Châu Âu thời ấy đang nén nỗi hận thù dành cho nhau, và tìm một lý do thích hợp để xả hết cơn phẫn nộ đó ra. Thời cơ đã đến thông qua vụ ám sát thái tử Franz Ferdinand. Động cơ của hung thủ, Gavrilo Princip, lúc đó cũng cực kỳ đơn giản – hắn chỉ muốn chứng minh bản thân với quân đội Serbia vì dám chê hắn nhỏ con và yếu đuối.

Hầu như mọi quốc gia ở Châu Âu đều có hiệp ước với một quốc gia khác, và những hiệp ước này đều có nội dung tương tự: Nếu có ai tấn công bạn, thì chúng tôi sẽ sẵn sàng hỗ trợ. Áo – Hung tuyên chiến với Serbia, dẫn đến Nga tuyên chiến với Áo – Hung, khiến Đức và Ý tuyên chiến với Nga, khiến Anh và Pháp tuyên chiến với Đức và Ý. Tây Ban Nha và Thụy Sĩ đứng ngoài cuộc trong chuyện này. Mỹ cũng đứng ngoài cuộc cho đến khi Đức tiến hành chiến tranh tổng lực với các tàu buôn hàng quốc tế không có vũ trang của Mỹ, và cũng bởi vì bức điện tín Zimmermann mà Đức gửi đến Mexico kêu gọi họ tuyên chiến với Mỹ. Người Anh đã chặn được thông điệp này, nhưng Mexico sau cùng mà nói cũng không dám tấn công Mỹ.

Chiến tranh, như người ta vẫn thường hay nói, là đỉnh cao của sự ngu ngốc, và Thế chiến Thứ nhất chính là ví dụ điển hình. Quân đội Anh, Pháp, Đức, Nga và Mỹ đều có những loại vũ khí hạng nặng như nhau, và trong vòng hai năm rưỡi đầu tiên, các chiến hào chỉ bao gồm một bên lao thẳng ra, thông qua những vỏ đạn, miệng hố, thép gai, bùn và mìn vào các đường súng máy của kẻ thù đang chờ.

Mỗi lần một bên bị đánh đuổi về, thì bên kia sẽ tưởng rằng đối thủ đang có điểm yếu nào đó và tiếp tục truy cùng diệt tận. Vậy nên họ cũng lao thẳng vào đường súng máy của kẻ thù đang chờ sẵn ở phía bên kia, cứ thế, liên tục và quay vòng. Kaiser Wilhelm đã gửi một bức điện tín vào cuối năm 1914 cho người anh em họ của mình, Sa hoàng Nicholas đệ Nhị, trong đó ghi bằng tiếng Nga rằng:

Làm thế nào chúng ta có thể ngăn chặn được điều này đây Nicky?

Vào ngày đầu tiên của trận chiến sông Somme (1/7/1916),  người Anh đã bắt đầu thực hiện chiến lược hành quân chậm, họ tiến về phía quân Đức, nhưng bằng cách đi bộ chậm rãi chứ không phải toàn quân lao thẳng lên. Tưởng rằng đi càng chậm thì sẽ càng khó bị tấn công, dẫn đến việc kẻ thù càng khiếp sợ họ. Sau 12 tiếng bắt đầu thực hành "chiến thuật" này, 19.240 lính Anh đã phải nằm xuống. Đây là ngày nhiều thương vong nhất trong lịch sử quân đội Anh.

Trận Somme bắt đầu như là một nỗ lực để kéo cả hai phe ra khỏi trận Verdun và cùng đưa ra một quyết định. Thay vào đó, trận Somme trở thành một trận chiến thậm chí còn đẫm máu hơn. Trận Somme cùng với trận Verdun vẫn còn là những bản hùng ca bi tráng nhất của Thế chiến Thứ nhất. 698.000 người đã chết tại Verdun, trung bình là 70.000 người mỗi tháng trong vòng 10 tháng. Hơn 300.000 người chết tại Somme, mỗi trận chiến mang lại hơn một triệu thương vong, cùng với đó là sự ra đời của xe phun lửa hiện đại và xe tăng tại Somme.

7. Cái chết đen

Có khá nhiều nguyên nhân dẫn đến "cái chết đen" vào năm 1346, nhưng một nguyên nhân chủ yếu là do niềm tin vào phù thủy của người Châu Âu. Phù thủy bị săn lùng khắp nơi, và những con vật như mèo đen cũng bị giết rất nhiều, con số lên đến hàng trăm ngàn trong suốt thời gian này. Lý do bởi vì chúng được xem là vật nuôi của những phù thủy, và nếu không có chúng, phù thủy sẽ không thể sử dụng phép thuật.

Khi mọi người dồn sức lực đuổi bắt và giết hết phù thủy cùng những con hắc miêu, số lượng chuột ở Châu Âu tăng nhanh chóng. Qua năm 1346, chuột xuất hiện ở khắp nơi, từ bán đảo Crimean thông qua con đường tơ lụa của Trung Quốc. Và vì không có mèo để săn bắt những con chuột bị nhiễm bọ chét trên các tàu buôn, nên sâu bệnh yersinia trong những con bọ chét thoải mái mang bệnh đến những vùng đất mới, bệnh này còn được gọi là dịch hạch.

Hiện nay, vi khuẩn này chỉ tồn tại ở một số nơi trên thế giới. Nhưng vào thời Trung Cổ, một lần tắm nước nóng cùng xà bông để làm sạch cơ thể khỏi bọ chét là cực kỳ hiếm. Châu Âu thời Trung Cổ không biết gì về kháng sinh nên một khi dính bệnh là chắc chắn đã trúng án tử.

Không có phương pháp điều trị, bệnh dịch hạch là một trong ba bệnh được biết đến với tỷ lệ tử vong là 100%, hai bệnh còn lại là viêm não và HIV. Với kiến thức y học của người Trung Cổ, thế giới gần như không có cơ hội sống sót. Ngay cả các bác sĩ giỏi nhất cũng không biết phải làm gì để tự bảo vệ bản thân, huống hồ là dân chúng.

Những ngày bệnh dịch hoành hành, bác sĩ chỉ dám bước vào nhà sau khi đã mặc áo giáp da toàn thân, mũ bảo hiểm và mặt nạ có hình giống mỏ chim ưng, trong chiếc mỏ chứa đầy các loại thảo mộc thơm. Những chiếc mặt nạ còn có kính màu đỏ trên mắt, vì họ tin rằng chỉ cần nhìn vào một người bị nhiễm trùng cũng có thể khiến bệnh lây lan sang người nhìn.

Một trong những cách chữa bệnh kỳ cục nhất là cho người bệnh đứng cạnh nhà xí và hít những mùi hôi thối ở đó. Và phương pháp chữa bệnh duy nhất có hiệu quả một chút là hút thuốc vì khói thuốc sẽ làm cho bọ chét tránh xa cơ thể. Nhưng không gì lạ bằng niềm tin rằng bệnh dịch xảy ra do Chúa đang nổi giận với con người.

Bắt đầu từ năm 1349, nhiều người bắt đầu đi lang thang ở các vùng nông thôn, đặc biệt là Đức, và họ tự đánh đập mình đến chảy máu bằng những cây roi da giống như thời Chúa Kitô bị đánh đập. Ý tưởng ở đây là nếu như họ tự hành hạ mình đủ, Chúa sẽ nguôi ngoai và bệnh dịch sẽ chấm dứt. Không cần phải nói, cách này đã không hiệu quả.

Vì thế, những người không thuộc Kitô giáo trên khắp Châu Âu đã bị đổ lỗi cho cơn bệnh dịch, chủ yếu là người Do Thái. Vào tháng Hai năm 1349, 2000 người Do Thái đã bị chặt thành nhiều mảnh và đốt cháy ở Strasbourg, trên biên giới Pháp – Đức. Nhưng bệnh dịch vẫn cứ còn đó. Đợt dịch này đã lấy đi 40% dân số Ai Cập, 30% dân số vùng Trung Đông, khoảng một nửa dân số Paris. Khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất là Địa Trung Hải, bao gồm Ý, Tây Ban Nha và phía Nam nước Pháp. Ở đó, khoảng 75% đến 80% dân số đã chết. Giáo hoàng Clement đệ tứ bằng cách nào đó đã sống sót nhờ việc ngồi một chỗ 24/7, và cho những ngọn lửa nhỏ cháy gần sàn nhà. Những người làm việc cho ngài sau đó tìm thấy những con bọ chét bị thiêu nhìn như hạt tiêu ngay trên sàn nhà, bên ngoài vòng lửa.

Sau khoảng bốn năm bệnh dịch, ước tính đã có khoảng 100.000.000 người chết.

8. Nạn đói Holodomor

Holodomor là từ tiếng Ukraine có nghĩa là "nạn đói”. Đây là thuật ngữ thích hợp dành cho tội ác của Josef Stalin đối với Ukraine từ năm 1932 đến 1933. Cách mà Stalin áp đặt chính sách của mình lên Ukraine có thể còn được bàn luận, nhưng hầu hết các nhà sử học đều đồng ý rằng Stalin hoàn toàn biết chuyện gì đang xảy ra nhưng vẫn từ chối cung cấp bất kỳ hình thức cứu trợ nào, thậm chí chuyển hướng các lô hàng thực phẩm của Ukraine đi nơi khác. Ông áp đặt bản án tàn khốc này nhằm trả thù việc Ukraine cố gắng phấn đấu để được công nhận là một quốc gia độc lập.

Ngày nay, chúng ta gọi Ukraine là một quốc gia với Kiev là thủ đô. Nhưng vào thời điểm đó, Ukraine vẫn được xem là một phần của Nga. Hầu hết nước Nga thời đó cũng đang trải qua nạn đói, và Stalin có thể đã xem đây là một cơ hội để khiến cho thảm kịch ở Holodomor giống như một tai nạn.

Hồ sơ đã không được lưu trữ tốt trong nạn đói, số người chết có thể dao động từ 1,8 đến 12 triệu. Một số học giả đã thu hẹp con số này xuống còn 4 đến 5 triệu, các biên giới cũng bị đóng và bất cứ ai muốn trốn khỏi Nga đều sẽ bị bắn hoặc bị bắt và đưa trở lại trạng thái chết đói.

Đã có khoảng 190.000 người cố gắng chạy trốn khỏi cái chết. Sự tuyệt vọng, đau đớn của người dân đã dẫn đến hàng chục nghìn người tìm đến cách tự ăn bàn chân của mình. Nạn đói chỉ kết thúc khi cảnh sát và quân đội ngừng đánh thuế hạt và lương thực của mọi người. Khi đó, nông dân đã có thể bắt đầu trồng trọt lại từ những vụ mùa nhỏ và bắt đầu phát triển nguồn lương thực.

9. Chiến tranh thế giới Thứ hai

Cuộc chiến này có thể đổ lỗi cho một người duy nhất, Adolf Hitler. Trong khi Stalin bị hoang tưởng một cách rõ ràng về nỗi sợ mất đi quyền lực, thì Hitler không sợ gì cả. Ông ta chỉ đơn giản là luôn mang theo một cơn thịnh nộ vô cùng lớn bên mình.

Hitler từng bị cầm tù vì thất bại với Beer Hall Putsch, một nỗ lực lật đổ chính quyền Kaiser vào năm 1923. Trong khi ngồi tù tám tháng, ông và Rudolf Hess đã viết Mein Kampf (Cuộc đấu tranh của tôi), trong đó Hitler cho rằng mọi điều tồi tệ đã xảy ra là do dân Do Thái.

10 năm sau, Hitler ra tù, xuất hiện như một anh hùng dân tộc, sau đó nuôi hy vọng nắm quyền kiểm soát chính phủ. Những gì xảy ra tiếp theo có thể được xem là tẩy não toàn quốc: Mọi người bắt đầu ghét dân Do Thái dữ dội. Nhiều người Do Thái đã nhìn thấy những rắc rối chuẩn bị tới và đã lui đến Anh hoặc Mỹ. Những người ở lại vẫn nuôi hy vọng rằng họ có thể được cứu rỗi. Nhưng không, họ đã không nhận ra điều này cho đến khi quá muộn.

Sáu năm sau, Hitler đã thực hiện tốt lời hứa của mình, chiếm được “đất sống” cho người Đức bằng cách xâm chiếm Ba Lan. Anh và Pháp ngay lập tức tuyên chiến với Đức. Nga đã ký một hiệp ước với Đức vì Stalin biết rằng ông không thể chinh phục nước Đức vào thời điểm đó. Hitler đã chờ thời tới trước khi xâm chiếm Nga hai năm sau đó, với sự hiểu biết rằng quân đội Nga đang thiếu thốn. Nhật Bản xâm chiếm Trung Quốc để chiếm tài nguyên vào tháng Chín năm 1940, và sau đó Nhật Bản, Ý và Đức trở thành Phe Trục, vì họ hiểu được mong muốn của nhau là chinh phục các quốc gia khác.

Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng để trả thù lệnh cấm vận của Hoa Kỳ về dầu, sắt và đồ cơ khí. Mỹ sau đó tuyên chiến với Nhật Bản. Tới lúc này, gần như mọi nước đều đã tuyên chiến với nhau. Sau sáu tháng, đã có 71 triệu người chết. Rome, Paris, Moscow, Leningrad và London đều chìm trong biển lửa. Dresden, Hiroshima, Nagasaki, Stalingrad và Manila đều đã bị tiêu diệt sạch.

Nhưng điểm nổi bật nhất của Thế chiến Thứ hai sẽ mãi mãi là cuộc đại diệt chủng (Holocaust). Cơn thịnh nộ của Hitler hoàn toàn nhắm vào những người Do Thái, và ông bao quanh mình bằng những người đồng tình với ý kiến rằng người Do Thái là một dân tộc đáng bị diệt chủng. Lực lượng vũ trang của Đức Quốc Xã đã thực hiện nhiệm vụ giết 6 triệu người, bao gồm cả đàn ông, phụ nữ và trẻ em bằng nhiều phương pháp như khí độc, bắn chết, đánh đập, tra tấn thí nghiệm khoa học,… Niềm tin của họ thời đó là người Do Thái không khác gì các loài gia súc. Hơn 1,1 triệu người đã bị sát hại tại Auschwitz, 700.000 đến 800.000 người tại Treblinka, 360.000 tại Majdanek, 320.000 tại Chelmno, 250.000 tại Sobibor.

10. Những cuộc thập tự chinh

Cả hai phe Công giáo và Hồi giáo đã lao vào rất nhiều cuộc chiến, với mục đích duy nhất là tiêu diệt tôn giáo còn lại cùng toàn bộ những giáo dân để tôn thờ đấng cứu thế của mình. Đây chính là khoảnh khắc đen tối nhất của lịch sử loài người.

Mọi thứ bắt đầu từ khoảng năm 1063 đến năm 1434, khi những vũ khí dùng thuốc súng lần đầu tiên được sử dụng trên chiến trường.

Vào năm 1099, cuộc thập tự chinh đầu tiên kết thúc với chiến thắng thuộc về phe Công giáo, khi những hiệp sĩ và lính của Pháp, Anh, Đức, miền nam nước Ý bao vây thành công Jerusalem từ ngày 7/6 đến ngày 15/7. Đối thủ của họ là đế chế Hồi giáo Fatimid Caliphate của Ai Cập, dẫn đầu là Iftikhar al-Dawla.

Khi thành phố sụp đổ, những kẻ xâm lược xông vào, lục soát mọi tòa nhà và giết chết từng người. 70.000 người đã bị chặt xác nhân danh Chúa Kitô. Những con ngựa lội trong máu đến đầu gối của chúng. Một nửa số phụ nữ ở đó đã bị hãm hiếp và hầu hết mọi người đều bị tra tấn bằng những phương pháp khác nhau. Khoảng 500 người Do Thái đã chiến đấu bên cạnh người Hồi giáo, sau đó lánh nạn trong một giáo đường. Quân Pháp đã đốt trụi giáo đường khi còn rất nhiều người trong đó.

88 năm sau, Salah ad-Din đã thành công đưa Jerusalem quay về với đạo Hồi và cho phép tất cả mọi người trở lại quê hương nếu họ trả một khoản tiền chuộc. Những người nghèo nàn không có tiền sẽ bị bán làm nô lệ. Những cuộc thập tự chinh khác vẫn còn tiếp diễn sau đó, Thánh Địa thay đổi từ nơi này đến nơi khác, tiêu tốn hàng trăm nghìn mạng sống, tất cả đều nhân danh vị thần này hoặc một vị thần khác. Trong khi đó, gần như mọi cuốn Kinh Thánh đều khuyên răn chúng ta rằng:

Hãy yêu thương kẻ thù của mình.

Nguồn bài: Listverse